Diễn giải X quang tuyến vú

Viết bởi Ths.Bs.Lê Anh Tuấn

Diễn giải X quang tuyến vú: những tổn thương dạng khối

Diễn giải X quang vú, phần 1: những tổn thương dạng khối

Bài X quang vú có các từ vựng miêu tả (tạm dịch, tô màu xanh) dựa theo định nghĩa BIRADS hiện hành, gồm những phần sau:

– Khối

– Vôi hóa

– Biến dạng cấu trúc

– Những trường hợp đặc biệt

– Những dấu hiệu kết hợp

1. KHỐI

“KHỐI” là một tổn thương chiếm chỗ nhìn thấy ở hai hướng khác nhau. Nếu một khối tiềm tàng chỉ nhìn thấy ở một hướng thì nên gọi là “KHÔNG ĐỐI XỨNG”-“ASYMMETRY” cho đến khi 3 chiều của nó được xác định.

1.1. HÌNH DẠNG

a. Hình tròn

Khối hình cầu, hình quả bóng, hình tròn.

Nang này là một thí dụ của khối tròn

b. Hình bầu dục

Khối hình trứng hoặc hình elip.

Khối máu tụ này là một thí dụ của khối hình bầu dục

c. Chia nhiều tiểu thùy (Lobular)

Khối có đường viền nhấp nhô (undulating contour).

Khối u xơ tuyến khổng lồ này ở hướng nghiêng A và đầu-chân B là một thí dụ của khối chia nhiều thùy [con].

d. Hình không đều (méo mó)

Hình dạng tổn thương không thể mô tả đặc điểm bằng bất cứ từ nào ở trên.

Khối ung thư xâm lấn này là một thí dụ của khối có hình dạng không đều (méo mó)

1.2. Bờ (Làm thay đổi hình dạng của khối)

a. Bờ rõ, nét (Circmscribed)

Bờ được vạch ra rõ nét (ít nhất là 75% đường bờ rõ nét, và phần bờ còn lại cũng rõ nét không kém dù bị mô phủ trên che khuất) với sự chuyển tiếp đột ngột giữa tổn thương và mô xung quanh. Không có sự biến đổi thêm vào khả nghi do thâm nhiễm. Một khối mà bất cứ đoạn bờ nào là không rõ hoặc có gai thì nên xếp vào loại tương ứng đó.

Nang này là một thí dụ về tổn thương có bờ rõ nét

b. Bờ bị che khuất (Obscured)

Bờ bị khuất do mô bình thường kề cận chờm lên hoặc chồng lên. Thuật ngữ này thường được sử dụng khi bác sỹ đọc phim tin rằng khối có bờ rõ nét (circumscribed) nhưng bờ bị khuất.

Nhiều nang trên các phim vú nghiêng này có bờ rõ nét nhưng bờ bị mô bình thường che khuất

c. Bờ vi tiểu thùy (microlobulated margin)

Các vòng cung ngắn của bờ tạo thành các chỗ nhấp nhô nhỏ (vài milimet). (Khác với khối chia tiểu thùy bề mặt có các cung lớn hơn).

Khối ung thư xâm lấn này có bờ vi tiểu thùy

d. Bờ không rõ (Indistinct margin)

Sự không rõ của [toàn bộ] bờ hoặc bất cứ đoạn bờ nào cũng gây lo ngại rằng có thể có sự thâm nhiễm của tổn thương và hình thái này ít khả năng do mô vú bình thường chồng lên.

Khối ung thư xâm lấn này có bờ không rõ.

e. Bờ có gai (Spiculated margin)

Tổn thương loại này đặc trưng bởi các đường thẳng tỏa ra từ bờ của khối.

Khối ung thư xâm lấn bờ có gai.

Bệnh nhân nữ 57 tuổi có ung thư biểu mô ống thâm nhiễm.

Phim xq hướng đầu chân A và chếch trong ngoài B cho thấy mật độ khu trú (các mũi tên). Các phim trên từ sàng lọc, một người đọc kết quả đã cho là âm tính (BI-RADS 1) mặc dù tổn thương rõ trên các phim. Phim phóng đại khu trú hướng nghiêng thực sự C bộc lộ khối có gai, tất cả các người đọc cho là rất gợi ý ác tính (BI-RADS 5). (Wendie A. Berg. Breast Imaging Reporting and Data System: Inter- and IntraobserverVariability in Feature Analysis and FinalAssessment. AJR:174, June 2000).

1.3. MẬT ĐỘ

Thuật ngữ này được dùng để xác định độ suy giảm tia x của tổn thương so với độ suy giảm kỳ vọng của mô xơ-tuyến vú có thể tích tương đương. Điều quan trọng là phần lớn các ung thư vú tạo thành một khối có thể nhận thấy được có mật độ bằng hoặc cao hơn mật độ của cùng một thể tích mô xơ-tuyến. Hiếm có (mặc dù không phải là không có) ung thư vú có mật độ thấp hơn. Ung thư vú không bao giờ chứa mỡ (thấu xạ) cho dù mỡ có thể mắc kẹt bên trong.

a. Mật độ cao

Ảnh x quang vú của một khối mật độ cao (February 2011 Radiology, 258, 417-425.)

b. Đồng mật độ (isodense)

 

Ảnh x quang vú của một khối đồng mật độ (February 2011 Radiology, 258, 417-425.)

c. Mật độ thấp nhưng không chứa mỡ

Ảnh x quang vú của một khối mật độ thấp (February 2011 Radiology, 258, 417-425)

d. Chứa mỡ (Thấu xạ-Radiolucent)

Loại này bao gồm tất cả các tổn thương chứa mỡ như nang dầu, u mỡ, galactocele, cũng như u mô thừa (hamartoma) hoặc u mỡ-xơ-tuyến (fibroadenolipoma). Bởi vì độ đặc hiệu thấp hơn độ nhạy, vì vậy điều quan trọng là nhấn mạnh bản chất lành tính của các đặc điểm x quang vú khi có thể. Một khối chứa mỡ sẽ biểu hiện lấn át là lành tính.

Khối có thể sờ thấy ở đuôi nách này là thấu xạ và có vỏ mỏng. Khối đã được cắt bỏ mặc dù trên x quang nó rõ ràng là u mỡ và không cần thiết phải lấy đi.

Khối có thể sờ thấy này phát triển ở vùng đã phẫu thuật trước đây. Nó có vỏ mỏng, chứa mỡ thấu xạ và là một dạng hoại tử mỡ lành tính không yêu cầu điều tra thêm. Kết luận nang dầu sau chấn thương phẫu thuật.

Hamartoma (mũi tên). Tổn thương hỗn hợp này chứa mỡ và mô xơ-tuyến. Nó lành tính, mặc dù có thể sờ thấy được, và không yêu cầu điều tra thêm.

Galactocele. Tổn thương sáng hiếm hoi này là một nang chứa sữa có mật độ mỡ cao

———— Hết phần Khối———-

Ghi chú: các ảnh minh họa được lấy từ các nguồn xuất bản tin cậy. Những ảnh không đề nguồn được lấy từ cuốn sách uy tín “Breast Imaging”, xuất bản lần thứ ba của D.B. Kopans

Nguồn: http://bsxqtuan.wordpress.com

Diễn giải X quang tuyến vú: những tổn thương vôi hóa

Bài X quang vú có các từ vựng miêu tả (tạm dịch, tô màu xanh) dựa theo định nghĩa BIRADS hiện hành, gồm những phần sau:

– Khối

– Vôi hóa

– Biến dạng cấu trúc

– Những trường hợp đặc biệt

– Những dấu hiệu kết hợp

2. VÔI HÓA

(Phân loại và Phân bố của Vôi hóa)

Vôi hóa được nhận định lành tính trên phim x quang điển hình là tròn, to và thô với bờ nhẵn và dễ nhận ra hơn vôi hóa ác tính. Vôi hóa liên quan đến u ác tính (cũng như nhiều loại vôi hóa lành tính) thường rất nhỏ và cần sử dụng kính phóng đại để nhìn thấy rõ hơn.

Khi không thể đưa ra bệnh căn cụ thể thì mô tả vôi hóa nên có cả hình thái và phân bố của chúng. Không nhất thiết phải luôn báo cáo vôi hóa lành tính hiển nhiên. Tuy nhiên, nên báo cáo chúng nếu bác sỹ đọc phim lo ngại các người đọc phim khác có thể diễn giải sai. Vôi hóa mạch máu được ghi chú trong báo cáo kết quả, đặc biệt ở phụ nữ dưới 50 tuổi có dữ liệu gợi ý nguy cơ tiềm tàng của bệnh động mạch vành.

1

Sơ đồ này thể hiện nhiều loại vôi hóa có thể nhìn thấy trên phim x quang vú: (1) các vụn vôi hóa trong ống dẫn; (2) các vòng vôi hóa đậm, trung tâm sáng trong hoại tử mỡ; (3) vôi hóa lắng đọng trong các nang nhỏ (cặn vôi); (4) các thể kết ở trong các tiểu thùy giãn dạng nang nhỏ; (5) viền vôi hóa ở thành nang dịch: (6) lắng đọng ban đầu trong khối u xơ-tuyến thoái triển; (7) lắng đọng nhiều trong khối u xơ-tuyến thoái triển; (8) vôi hóa mạch máu; (9) vôi hóa da; (10) vôi hóa hình que trong bệnh chế tiết; (11) lắng đọng đa hình thái ở ung thư nội ống tuyến; (12) vôi hóa hình đường mảnh ở comedocarcinoma.

2.1. LÀNH TÍNH ĐIỂN HÌNH

a. Vôi hóa của da.

Những nốt vôi tròn hoặc đa giác ở da thường có trung tâm sáng và hình thái của chúng đặc trưng bệnh. Vôi hóa da đa phần nhìn thấy dọc nếp dưới vú cạnh xương ức, nách và quầng vú. Các nếp bất thường có thể được xác định là lắng đọng ở da bằng cách chụp vú theo hướng tiếp tuyến với da phủ trên.

2

Vôi hóa tròn, trung tâm sáng ở da.

3

Những nốt vôi có trung tâm sáng và hình đa giác thì hầu như luôn là vôi hóa lành tính của da, như thấy trong hình A đã được phóng đại nhiều lần. Vôi hóa của da thường thấy dọc bờ xương ức của vú, như nhìn thấy ở hướng chếch trong – ngoài (hình B) và đầu – chân (hinh C) ở bệnh nhân thứ hai này. Các nốt vôi có trung tâm sáng tập trung với mật độ cao ở đây do vùng này có nhiều nang lông.

4

Có các vôi hóa to, lành tính với trung tâm sáng (mũi tên ngắn)  trong hình A, nhưng cũng có những vi vôi hóa đa hình (mũi tên dài) do ung thư biểu mô nội ống. Hình B phóng đại.

b. Vôi hóa mạch máu

Những đường vôi hóa song song, hoặc những đoạn thẳng vôi hóa liên quan rõ ràng với các cấu trúc ống.

5

c. Vôi hóa hình bỏng ngô (popcorn-like) hay thô đại

Những vôi hóa này to (đường kính >2-3mm) kinh điển do u xơ-tuyến thoái triển tạo ra.

6

Các phim x quang vú trình bày u xơ tuyến thoái hóa có vôi hóa thô đại (A) và hình bỏng ngô (B)( Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

7

Vôi hóa giống hình bỏng ngô điển hình của u xơ tuyến thoái triển, như trong hình chụp hướng chếch trong ngoài A (hình B phóng đại) và hướng đầu-chân C (hình D phóng đại) ở bệnh nhân nữ 43 tuổi này.

d. Vôi hóa hình que lớn

Những vôi hóa lành tính này liên quan tới giãn ống dẫn và có thể tạo thành các hình que đặc, thẳng, nhẵn, hoặc đứt đoạn, đường kính thường ≥ 1mm. Chúng có trung tâm sáng nếu vôi đọng ở thành ống, và sẽ thường đặc ở các ống bị giãn. Chúng phân bố theo các ống, tỏa tia hướng tới núm vú, đôi khi phân nhánh và thường ở hai bên vú. Vôi hóa bài tiết thường gặp ở phụ nữ trên 60 tuổi.

8

Vôi hóa hình que đặc là điển hình của vôi hóa lành tính do các chất tế bào nội ống trong bệnh bài tiết, đây là phim hướng nghiêng A và đầu-chân của một bệnh nhân nữ 83 tuổi.

9

Vôi hóa tiết có thể hình ống với trung tâm sáng, giống như một số vối hóa trong phim hướng đầu-chân này. Có giả thuyết bệnh là do viêm quanh ống dẫn. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

e. Vôi hóa hình tròn

Khi nhiều, vôi hóa loại này có thể có kích thước khác nhau. Chúng có thể được coi là lành tính khi phân tán. Khi nhỏ (≤ 1mm), chúng thường được hình thành trong các phế nang của tiểu thùy. Nếu kích thước nhỏ hơn 0,5mm có thể gọi là “chấm”. Một chùm riêng biệt các chấm vôi hóa có thể cho phép theo dõi sát hoặc thậm chí sinh thiết nếu mới xuất hiện hoặc cùng bên với một ung thư (đã biết) cho dù cần phải có nghiên cứu thêm để chứng thực.

10

Vôi hóa lành tính điển hình. Vôi hóa dạng chấm lan tỏa. Những chấm vôi này xuất hiện ở khắp hai vú.(V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853– 870).

11

Vôi hóa [hình] chùm nang. Hình A cho thấy một nhóm các vôi hóa tròn, nhỏ đứng sát nhau nhiều khả năng là tiểu thùy vị giãn kiểu vi nang. Sơ đồ B gợi ý sự phát triển của vôi hóa dạng nang.

f. Vôi hóa trung tâm sáng

Đó là những vôi hóa lành tính có kích thước từ dưới 1mm đến 1cm hoặc lớn hơn. Những chất lắng đọng đó hình tròn hoặc bầu dục, có bề mặt nhẵn và trung tâm sáng. “Thành” dày hơn vôi hóa kiểu “vỏ trứng” hoặc “đường viền”. Vôi hóa loại này gồm có các vùng hoại tử mỡ và mảnh lắng vôi hóa trong các ống tuyến.

12

Vôi hóa trung tâm sáng do tiến triển lành tính trong ảnh A. Trong trường hợp thứ hai,  vôi hóa trên ảnh phóng đại chếch trong – ngoài B và đầu – chân C tập trung thành đám hình cầu. Chúng đã được theo dõi và cuối cùng tạo thành lắng cặn hình cầu (D, E) nhiều khả năng do hoại tử mỡ (Lưu ý cũng có các chấm vôi hóa khác được hình thành trong thời kỳ chuyển tiếp).

g. Vôi hóa kiểu “vỏ trứng” hoặc “đường viền”

Những vôi hóa lành tính này rất mỏng xuất hiện dưới dạng lắng đọng vôi trên bề mặt của một khối cầu. Những lắng đọng đó có chiều dày thành mỏng dưới 1mm. Hoại tử mỡ và vôi hóa thành nang là nguyên nhân phổ biến nhất của vôi hóa đường viền.

13

Nang dầu. Khối chứa mỡ, bờ rõ này (mũi tên) là kết quả của phẫu thuật thu nhỏ tạo hình vú. Một dải xơ (đầu mũi tên) ở bên dưới nang dầu. Tiến triển này biểu hiện lành tính trên x quang. Không cần đánh giá thêm hoặc can thiệp.(V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853– 870)

 14

Vôi hóa đường viền mỏng thường vạch ra thành nang. Trong trường hợp này đường nét của nang 1cm có thể nhìn thấy rõ trong mô dày đặc bởi vì viền vôi ở thành.

 

h. Vôi hóa dạng “sữa canxi”

Đây là biểu hiện của vôi hóa lắng đọng trong các nang lớn và nhỏ. Trên ảnh hướng đầu-chân chúng thường kém rõ và các lắng đọng vô định hình, tròn, mờ nhạt, trong khi trên phim nghiêng 900 chúng thường hình lưỡi liềm, hình bán nguyệt, bờ rõ hình đoạn thẳng hoặc đường cong lắng đọng ở phần thấp của các nang. Một đặc điểm quan trọng nhất của vôi hóa loại này là sự thay đổi hình dạng của chúng theo các hướng chụp x quang vú khác nhau (hướng đầu chân so với chếch hoặc nghiêng bên 900).

 15

Các lớp sữa canxi trong các nang. Ở cá nhân này (hình A) chỉ vừa đủ nhìn thấy nang (mũi tên) trên phim hướng đầu-chân bởi vì chùm tia đi qua một lớp canxi rất mỏng. Trên phim B chụp nghiêng phóng đại, lớp canxi vẽ ra đáy cong lồi của nang. Hiện tượng này được mô tả bằng sơ đồ trong ảnh C, theo đó sữa canxi tạo thành “vũng” canxi ở phần thấp của nang. Khi nhìn từ trên xuống theo phim chụp đầu-chân, mật độ canxi giảm từ trung tâm ra ngoại vi, tạo thành hình thái vô định hình. Trong phim chụp hướng nghiêng, vôi tạo thành một bóng hình lưỡi liềm lõm xuống.

 16

Hiện tượng được lấy thí dụ như các bông tuyết lắng đọng trong quả cầu thủy tinh chặn giấy (trên cùng)  sau khi lắc, chúng ta chụp ở hướng nghiêng và từ trên xuống.

 17

Phim chụp nghiêng cho thấy lớp sữa canxi trong nang (mũi tên). (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

 18

Phim bên trái hướng đầu chân phóng đại, sữa canxi xuất hiện lờ mờ, bờ kém rõ. Phim bên phải hướng chếch trong ngoài phóng đại, sữa canxi hình đoạn thẳng, bờ rõ.

 

i. Vôi hóa đường chỉ khâu

            Vôi hóa này lắng đọng ở tổ chức nền trong ruột đường khâu. Điển hình chúng hình vòng hoặc đường thẳng, thường nhìn thấy nút thắt (hình thòng lọng).

19

j. Vôi hóa loạn dưỡng

Những vôi hóa này thường được tạo ra trong vú xạ trị hoặc sau chấn thương. Mặc dù hình dạng không đều, chúng thường thô đại và kích thước lớn hơn 0,5mm. Chúng thường có trung tâm sáng.

20

Bệnh nhân đã phẫu thuật bảo tồn vú. Vôi hóa trung tâm sáng này là điển hình của hoại tử mỡ.

21

Phim A chếch trong ngoài và phóng to trong phim B chếch trong ngoài, phim hướng đầu chân C thấy vôi hóa phát triển ở một phụ nữ 57 tuổi 5 năm sau cắt và xạ trị ung thư vú xâm lấn. Bởi vì một vài vôi hóa có kích thước nhỏ, chúng đã được cắt bỏ, bộc lộ xơ hóa, thay đổi do xạ trị, và vôi hóa loạn dưỡng lành tính. Các vôi hóa loạn dưỡng lành tính thường có hình ảnh giống mảnh dung nham vỡ. Ảnh D là một mảnh dung nham thực sự. Lưu ý rằng bệnh nhân này trước đây đã xạ trị ung thư vú, các vôi hóa loạn dưỡng nhìn thấy ở phim  chếch trong ngoài E và phóng to F rất giống dung nham. Phim G là phim phóng to vôi hóa lành tính giống dung nham ở một bệnh nhân khác.

22

2.2. VÔI HÓA NGHI NGỜ, LO NGẠI VỪA PHẢI

a. Vôi hóa Vô định hình hoặc Không rõ (Amorphous or Indistinct Calcifications)

Những vôi hóa này lờ mờ hoặc nhỏ đến mức mà việc phân loại hình thái cụ thể hơn không thể xác định được. Những vôi hóa vô định hình phân tán lan tỏa thường được cho là lành tính mặc dù các phim phóng đại có thể hữu ích. Những vôi hóa vô định hình phân bố thành chùm, vùng, đoạn hoặc đường thẳng có thể cho phép sinh thiết.

23

Vôi hóa vô định hình về cơ bản là tròn, nhưng bờ mờ. Trong ảnh là vôi trong các nang.

24

Vôi hóa vô định hình là loại khó nhận ra nhất. Chúng có kích thước nhỏ (< 0,5mm), không đều đặn, nhưng khác vôi hóa đa hình về sự dễ thấy hay mật độ của chúng. Bờ của chúng không rõ nét như bờ của vôi hóa đa hình. Mật độ của chúng chỉ cao hơn mật độ mô tuyến xung quanh một ít. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

25

Vôi hóa rất nhỏ, lờ mờ và thường khó thấy trên các máy CR (CR system). Phim x quang cho thấy nhiều vôi hóa vô định hình (mũi tên). Tiến hành định vị dây móc; báo cáo mô bệnh học không thấy ác tính. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

26

Hầu hết các bác sỹ điện quang gặp vấn đề với loại vôi hóa gây lo lắng vừa phải này. Chúng được mô tả trong BIRADS là lờ mờ hoặc vô định hình khi các hạt quá nhỏ hay lờ mờ. Giá trị dự báo dương tính khá thấp (dưới 10%). Ảnh cho thấy một chùm vôi hóa 1cm chứa một hạt lớn và rất nhiều hạt nhỏ lờ mờ (mũi tên) đến mức khó mô tả đặc điểm ngay cả khi phóng đại. Sinh thiết là ung thư biểu mô ống bậc thấp tại chỗ, nhưng các dấu hiệu x quang vú không thể phân biệt với các tiến triển lành tính. (V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853–870).

27

Vú trái của một phụ nữ 44 tuổi. Phim x quang vú hướng đầu – chân phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa vô định hình. Chẩn đoán mô học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều bộc lộ các thay đổi tế bào hình trụ và tăng sản tế bào hình trụ mà không điển hình (atypia). (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010)

b. Vôi hóa Không đồng nhất, Thô đại (Coarse Heterogenous Calcifications)

Vôi hóa loại này không đồng đều, dễ thấy, thường lớn hơn 0,5mm và có xu hướng hợp nhất lại nhưng không đạt tới kích thước của vôi hóa loạn dưỡng có hình dạng méo mó. Chúng có thể liên quan với bệnh ác tính nhưng cũng có thể xuất hiện ở các vùng xơ hóa, u xơ – tuyến hoặc chấn thương  thể hiện các vôi hóa loạn dưỡng tiến triển.

28

Trong các loại vôi hóa nghi ngờ, vôi hóa đa hình nhỏ có mức độ nghi ngờ ác tính cao nhất, vôi hóa không đồng nhất thô đại ít nghi ngờ nhất, và vôi hóa vô định hình có mức độ ở giữa hai loại trên. Berg và đồng sự (Radiology, 2001, 221) nghiên cứu 150 tổn thương vôi hóa vô định hình: 20% ác tính, trong đó 90% là DCIS. Ảnh x quang vú cho thấy một chùm vôi hóa, hình dạng không đồng đều và lớn hơn 0,5mm nhưng không lớn bằng vôi hóa loạn dưỡng. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

29

Chụp xquang vú phải một phụ nữ 59 tuổi, hướng đầu – chân, phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa thô đại không đồng nhất. Kết quả bệnh học sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và sinh thiết mở cho thấy ung thư biểu mô tại chỗ loại trung gian có hoại tử trung tâm và các đặc điểm hóa mô phù hợp với ung thư biểu mô tại chỗ. Tổn thương đã được đánh giá là lành tính khi phân tích thống kê.(Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

2.3  KHẢ NĂNG ÁC TÍNH CAO HƠN

a. Vôi hóa Đa hình, Nhỏ (Fine Pleomorphic Calcifications)

Vôi hóa loại này thường dễ thấy hơn vôi hóa vô định hình và là vôi hóa không lành tính điển hình cũng không ác tính điển hình. Chúng biến thiên về hình dạng và kích thước, đường kính thường nhỏ hơn 0,5mm.

30

Chụp x quang vú phải của một phụ nữ 67 tuổi. Phim hướng đầu – chân phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa đa hình nhỏ (bờ rõ hơn vôi hóa vô định hình). Chẩn đoán bệnh học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và sau đó cắt khối là tăng sản ống tuyến không điển hình và tăng sản tế bào trụ. (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

31

Vôi hóa đa hình phân bố theo đoạn. Kết quả sinh thiết là ung thư biểu mô ống tuyến thâm nhiễm và vôi hóa trong DCIS (ung thư biêu mô ống tại chỗ).(L. Liberman, J.H. Menell / Radiol Clin N Am 40 (2002) 409–430).

b. Vôi hóa hình Đường Thẳng Nhỏ hoặc Đường thẳng – Nhỏ Phân nhánh (Fine Linear or Fine-Linear Branching Calcifications)

Vôi hóa loại này không đều, xếp thành đường thẳng hoặc đường cong mảnh, các hạt vôi hóa có thể không liên tục và chiều ngang nhỏ hơn 0,5mm. Hình thái của chúng gợi ý sự lấp đầy lòng ống không đều đặn do ung thư vú.

32

Phân bố từng đoạn. Chụp x quang ống tuyến cho thấy sự phân nhánh hình cành cây của hệ thống ống tuyến. Hình thái phân nhánh này được các hạt vôi hóa nhỏ đúc khuân gợi lại các đường thẳng nhỏ phân nhánh. Giải phẫu bệnh: DCIS. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

33

Chụp x quang vú phải bệnh nữ 50 tuổi, hướng trong ngoài, phóng đại cho thấy vôi hóa phân nhánh/đường thẳng nhỏ theo phân bố các ống tuyến thẳng. Chẩn đoán bệnh học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và cắt khối là K biểu mô ống tuyến xâm lấn có bậc hạt nhân trung gian, và K biểu mô ống loại comedo bậc cao tại chỗ có hoại tử trung tâm. (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

34

Vôi hóa ở hình A là kiểu đường thẳng, nhỏ phân nhánh điển hình của comedocarcinoma. Sơ đồ B cho thấy cách thức các tế bào ung thư lấp đầy ống và có thể hoại tử, vôi hóa.

35

Vôi hóa nhỏ, xếp thẳng hàng, phân nhánh là điển hình của u ác tính (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

2.4. ĐIỀU CHỈNH PHÂN BỐ

Đây là những từ mô tả sự sắp xếp của vôi hóa trong vú. Nhiều nhóm vôi hóa giống nhau về hình thái và phân bố cần được chỉ rõ ra trong báo cáo.

a. Rải rác (Diffuse/Scattered)

Vôi hóa loại này phân tán rải rác một cách tự nhiên khắp vú. Vôi hóa chấm và vô định hình trong loại phân bố này thường lành tính và ở hai bên vú.

36

Phim x quang hướng đầu – chân hai vú cho thấy vi vôi hóa rải rác lan tỏa, lành tính. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.).

37

Vôi hóa vô định hình, phát tán lan tỏa do tiến triển bệnh lành tính. Càng nhìn kỹ càng thấy vôi hóa trở nên rõ hơn khắp vú chụp tư thế chếch trong ngoài A và đầu chân B. Ở người phụ nữ 50 tuổi này các chấm vôi hóa đó đã ổn định 4 năm.

b. Vùng (Regional)

Vôi hóa loại này phát tán trong một thể tích lớn (> 2cc) mô vú không tương ứng với phân bố ống tuyến. Bởi vì phân bố loại này có thể liên quan đến gần một góc phần tư hoặc hơn góc một phần tư nên u ác tính rất ít khả năng xảy ra. Tuy nhiên việc đánh giá phải bao gồm yếu tố hình dạng cũng như phân bố.

c. Nhóm hoặc chùm (Grouped or Clustered)

Nên dùng thuật ngữ này khi có ít nhất 5 vôi hóa trong một thể tích nhỏ (< 1cc) mô vú.

38

Phim chụp xq vú cho thấy nhiều hơn 5 nốt vôi trong 1cm2 ở một phụ nữ 51 tuổi được sàng lọc vú thường qui. Những nốt vôi đó nhỏ và đa hình thái và đã được xác minh là DCIS.

39

Trong hình phóng đại này có một chùm 5 chấm vôi hóa trong 1cm3. Nó được chẩn đoán DCIS ở bệnh nhân nữ 55 tuổi này.

40

Phim x quang vú cho thấy một chùm các chấm vôi hóa. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286).

Một chùm có 5 hoặc nhiều hơn 5 chấm vôi trong một vùng nhỏ 1cm2, thấy ở cả bệnh lành tính và ác tính. Nếu chùm thưa (<10/cm2) thì khả năng ác tính lớn hơn. (Park JM, Choi HK, Bae SJ, Lee MS, Ahn SH, Gong G. Clustering of breast microcalcifications: revisited. Clin Radiol. 2000;55:114–8).

d. Đường thẳng (Linear)

Vôi hóa xếp thành đường thẳng. Kiểu phân bố này có thể làm tăng nghi ngờ về tổn thương ác tính bởi vì nó gợi ý lắng đọng trong ống tuyến.

41

Các vôi hóa có hình thái và phân bố theo đường thẳng (mũi tên). Kết quả sinh thiết là ung thư biểu mô ống tại chỗ có vôi hóa.

42

Người phụ nữ 56 tuổi này có tiền sử ung thư vú trái, chụp sàng lọc kiểm tra vú phải. Phim x quang vú phải hướng chếch trong ngoài (A) cho thấy một chùm vi vôi hóa ở trung tâm (mũi tên). Phóng đại (C) cho thấy các vi vôi hóa phân bố theo đường thẳng. Ấn tượng: vôi hóa rất nghi gờ ác tính. Mô bệnh học tổn thương: DCIS, loại comedo.

e. Thùy (Segmental)

Vôi hóa phân bố theo thùy gây lo lắng vì chúng gợi ý đọng vôi trong một ống tuyến hoặc nhiều ống tuyến và các nhánh của chúng làm tăng khả năng của ung thư vú lan rộng hoặc nhiều ổ (multifocal) ở một thùy (lobe or segment) của vú. Mặc dù tồn tại các nguyên nhân của vôi hóa (thí dụ, các vôi hóa chế tiết), hình thái nhẵn, giống hình que và kích thước của mỗi vôi hóa thì lớn có thể giúp phân biệt vôi hóa lành tính với vôi hóa ác tính, nhỏ hơn, không đều đặn. Phân bố theo thùy có thể làm tăng nghi ngờ đối với các vôi hóa hình tròn (chấm) hoặc vô định hình.

43

Phim x quang vú chếch trong – ngoài (A) và phóng đại (B) cho thấy vôi hóa phân bố theo thùy. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

44

Tiền sử: Bệnh nhân nữ 55 tuổi xquang vú sàng lọc

Phim x quang: hướng chếch trong ngoài (A) và phóng đại hướng trong ngoài (B) cho thấy các vi vôi hóa phân bố theo thùy, hình đường thẳng  ở mặt trên của vú. Hình thái này rất gợi ý ác tính. Sinh thiết kim lớn và chụp x quang mảnh bệnh phẩm (C) để chứng minh rất nhiều vi vôi hóa ở trong các lõi sinh thiết. Bệnh học của các lõi cho thấy tăng sản ống không điển hình (ADH) Bởi vì sự hiện diện của dạng không điển hình nên tiến hành cắt bằng phẫu thuật đã được khuyến cáo và thực hiện.

Ấn tượng: Vi vôi hóa, rất gợi ý ác tính, BI-RADS 5.

Mô bệnh học: tăng sản ống không điển hình với các lõi. Ung thư biểu mô ống tại chỗ với mảnh cắt.

45

Vôi hóa được phân bố theo thùy là những vôi được tạo trong một hệ thống ống đơn. Khi chúng không đồng nhất và không đều đặn, chúng thường do ung thư biểu mô ống tại chỗ, như nhìn thấy ở các phim hướng chếch trong ngoài A và đầu chân B của bệnh nhân có comedocarcinoma này. Vôi hóa phân bố theo thùy có thể do quá trình bệnh lý lành tính.

Đôi khi các vôi hóa tròn, đều, phân bố theo thùy có thể gặp trong xơ hóa mô đệm lành tính, như trong phim chếch trong ngoài C và đầu chân D và phim x quang mảnh E này.

 

Nguồn: http://bsxqtuan.wordpress.com

Diễn giải X quang vú: những tổn thương biến dạng cấu trúc, những trường hợp đặc biệt, những dấu hiệu kết hợp.

Bài X quang vú có các từ vựng miêu tả (tạm dịch, tô màu xanh) dựa theo định nghĩa BIRADS hiện hành, gồm những phần sau:

– Khối

– Vôi hóa

– Biến dạng cấu trúc

– Những trường hợp đặc biệt

– Những dấu hiệu kết hợp

3. BIẾN DẠNG CẤU TRÚC (ARCHITECTURAL DISTORTION)

Biến đổi cấu trúc là cấu trúc bình thường bị biến dạng mà không nhìn thấy khối xác định. Nó bao gồm các đường mảnh (lines) hoặc tỏa tia gai (spiculations) từ một điểm, gây co kéo khu trú và biến dạng bờ nhu mô. Biến dạng cấu trúc cũng có thể kết hợp với khối, không cân xứng hoặc vôi hóa. Khi không có tiền sử chấn thương hoặc phẫu thuật thích hợp, biến dạng cấu trúc bị nghi là ác tính hoặc sẹo tỏa tia và sinh thiết là hợp lý.

c1

Biến dạng cấu trúc. Hình X quang cho thấy nhiều gai tỏa tia (các mũi tên) không hội tụ đến bờ của khối. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

c2

Khối có gai. Các gai (mũi tên nhỏ) tỏa tia ra từ bờ của một khối (mũi tên lớn). (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

c3

Biến dạng cấu trúc. Bờ của nhu mô bị kéo (mũi tên) do ung thư xấm lấn ở hình A. Trong bệnh nhân khác ở hình B, khối ung thư xuất hiện dưới dạng một vùng biến dạng cấu trúc có gai (mũi tên).

c4

Bệnh nhân nữ 50 tuổi có khối sờ thấy dưới quầng vú và co kéo núm vú.

Chụp x quang vú chếch trong ngoài hai bên (A) cho thấy không cân xứng ở vùng dưới quầng vú trái. Trên phim hướng đầu chân (B), vùng đó có vẻ hơi bị biến dạng (mũi tên). Trên phim đầu chân phóng đại khu trú (C) biến dạng cấu trúc trở nên rõ ràng và tương ứng với bất thường có thể sờ thấy. Siêu âm (D) cho thấy khối đặc, hình dạng không đều, có bóng cản âm phía sau. Ấn tượng: biến dạng cấu trúc rất nghi ngờ ác tính.

Mô bệnh học: ung thư biểu mô ống xâm lấn.

4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

4.1. CẤU TRÚC ỐNG KHÔNG ĐỐI XỨNG/ỐNG GIÃN ĐƠN ĐỘC

Đó là cấu trúc ống hay nhánh nhiều khả năng do ống tuyến bị giãn hoặc to lên. Nếu không kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng hoặc x quang vú nghi ngờ thì nó thường có ý nghĩa ít quan trọng.

d1ad1b

Bệnh nhân nữ 52 tuổi, mới xuất hiện chảy dịch trong từ núm vú trái. Phóng đại ảnh vùng dưới quầng vú trái tư thế đầu chân cho thấy các ống giãn. Mũi tên chỉ đoạn ống bị cắt. Phẫu thuật cắt bỏ u nhú nội ống đơn độc. Siêu âm cắt ngang quầng vú thấy ống giãn (mũi tên cong), u nhú trong lòng ống (các mũi tên thẳng) (March 1999 Radiology, 210, 795-798.)

4.2. HẠCH BẠCH HUYẾT TRONG VÚ

Các hạch trong vú điển hình có hình thận và khuyết sáng do mỡ ở rốn hạch, kích thước thường 1cm hoặc nhỏ hơn. Chúng có thể lớn hơn 1 cm và được xác định như bình thường khi lớp mỡ thay thế chiếm ưu thế. Có thể có nhiều hạch, hoặc thay thế mỡ nổi trội có thể tạo ra một hạch trông giống như vài khối tròn. Chẩn đoán đặc trưng của tổn thương loại này được áp dụng cho các khối, thường ở vị trí trên và ngoài của vú, mặc dù chúng có thể ở bất cứ đâu trong vú.

d2

Ung thư biểu mô xuất hiện dưới dạng nốt mới. Hai phim X quang chếch trong ngoài từ hai lần khám sàng lọc liên tiếp. A, Lần gần đây phát hiện nhiều nốt tròn rõ ở góc ¼ trên phù hợp với các nốt hạch. Một khối nhỏ (mũi tên) không thể nhận ra trên phim chụp trước đó 1 năm. B, phim chụp trước đây 1 năm. C, phim ép khu trú nốt mới (mũi tên) bộc lộ khối có bờ một phần rõ và một phần không rõ. Khối không thể phát hiện trên siêu âm và do đó giả thuyết là đặc. Sinh thiết kim lớn định vị ba chiều được đề nghị. D, ảnh sau sinh thiết cho thấy khuyết (mũi tên) do dụng cụ sinh thiết trợ hút chân không trực tiếp bằng kim 11 gauge. Chẩn đoán mô học là ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn. (Lawrence W. Bassett, RADIOLOGIC CLINICS OF NORTH AMERICA. VOLUME 38 – NUMBER 4 * JULY 2000)

d3

Nốt hạch bạch huyết lành tính trong vú (BI-RADS loại 2). Lưu ý khuyết tương ứng với rốn mỡ.(L. Liberman, J.H. Menell / Radiol Clin N Am 40 (2002) 409–430)

d4

Hạch bạch huyết điển hình trong vú. Đây là vị trí và hình thái điển hình của hạch bạch huyết trong vú (mũi tên), xuất hiện ở góc ¼ trên ngoài, được nhìn theo tư thế chếch trong ngoài A và đầu chân B. Trên phim kiểm tra nhìn gần (C), phần rốn sáng điển hình có thể thấy rõ ở ảnh chếch trong ngoài. Không cần đánh giá thêm nữa.

4.3. KHÔNG CÂN XỨNG TOÀN BỘ (GLOBAL ASYMMETRY)

Mô vú không cân xứng được đánh giá so sánh với vùng tương ứng của vú bên đối diện và thể hiện cho một thể tích mô vú lớn ở trên một phần đáng kể của vú (ít nhất là góc ¼). Không có khối, cấu trúc bị biến dạng hoặc kết hợp với vôi hóa nghi ngờ. Mô vú không cân xứng toàn thể thường là một biến thể bình thường, nhưng có thể có ý nghĩa khi nó tương ứng với một bất thường có thể sờ thấy.

d5ad5b

Không cân xứng toàn bộ nhìn thấy ở tư thế chếch trong ngoài và đầu chân. Một thể tích mô vú lớn hơn ở vú trái so với vùng tương ứng ở vú phải, nhưng không có khối kết hợp, không có vôi hóa nghi ngờ, hoặc biến dạng cấu trúc. (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

d6

Không cân xứng toàn bộ. (A) Cặp phim hướng chếch trong ngoài. (B) Cặp phim hướng đầu chân. Vú trái đặc hơn vú phải. Cơ sở để xác định không cân xứng toàn bộ là sự khác biệt mật độ mô xơ tuyến không đối xứng liên quan đến ít nhất góc ¼  của vú. Hơn nữa, như trong trường hợp này, không có khối, vi vôi hóa, hoặc biến dạng cấu trúc. (Edward A. Sickles, Radiologic Clinics of North America. Volume 45, Issue 5 , Pages 765-771, September 2007)

4.4. KHÔNG CÂN XỨNG KHU TRÚ (FOCAL ASYMMETRY)

Dấu hiệu này không có đủ các tiêu chuẩn của một khối. Có thể thấy rõ sự không cân xứng được giới hạn, có hình dạng giống nhau ở hai hướng, nhưng không có bờ hoàn toàn và rõ ràng như một khối thực sự. Nó có thể là một đảo mô vú bình thường, đặc biệt khi có mỡ xen vào, nhưng nó thiếu các tính chất lành tính cụ thể nên có thể cần đánh giá thêm. Nó chiếm thể một vùng nhỏ hơn góc ¼.

d7ad7b

Không cân xứng khu trú các phim hướng chếch trong ngoài và hướng đầu chân. Hình không cân xứng khu trú có hình dạng tương tự nhau (các mũi tên), không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của một khối, được nhìn thấy ở hai tư thế chuẩn. (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

d8

Không cân xứng khu trú. (A) các phim hướng chếch trong ngoài và đầu chân. Có một vùng mô xơ tuyến đặc không cân xứng ở 1/3 sau của góc ¼ dưới ngoài (ngoài mức núm vú trên phim hướng đầu chân, ở mức núm vú trên phim hướng chếch trong ngoài, và do đó tạo hình tam giác khu trú bên dưới mức núm vú nếu chụp phim hướng trong ngoài). Không có dấu hiệu tương tự có thể nhìn thấy ở vú bên đối diện (không trình bày). Cơ sở để xác định không cân xứng khu trú là sự khác biệt mô xơ tuyến đặc không đối xứng liên quan đến một thể tích chiếm chỗ nhỏ hơn góc ¼ của vú. (B) Vùng phóng đại tư thế chếch trong ngoài và đầu chân của một trường hợp không cân xứng khác. Lưu ý bờ lõm vào trong của tổn thương không cân xứng khu trú và mỡ rải rác bên trong. (Edward A. Sickles, Radiologic Clinics of North America. Volume 45, Issue 5 , Pages 765-771, September 2007)

d9

Không cân xứng khu trú. Vùng không cân xứng khu trú nhìn thấy trên các hướng đầu chân (A) và chếch trong ngoài (B) không có hình lồi ra ngoài của bờ ở tư thế chếch trong ngoài và mỡ xen bên trong tổn thương thấy ở cả hai hướng (mũi tên). (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

d10

Không cân xứng phát triển là vùng không cân xứng khu trú mới, to lên, hoặc đặc hơn ở lần khám hiện tại so với các lần khám trước. Tỷ lệ ác tính báo cáo từ 13% đến 27%.

Trong ảnh thấy không cân xứng phát triển dưới dạng một đám không cân xứng khu trú mới (mũi tên) trên phim chếch trong ngoài theo dõi 2 năm sau chụp phim cơ bản (trái). (January 2009 RadioGraphics, 29, e33.)

d11

Không cân xứng phát triển. Hai vùng không cân xứng khu trú (các mũi tên) nhìn thấy trên phim đầu chân bên trái (A) và chếch trong ngoài (B). Một năm sau, vùng không cân xứng bên dưới to lên và gợi ý các hình gai trên phim đầu chân (C) và chếch trong ngoài (D) so với phim cũ. Mô học: ung thư biểu mô ống xâm lấn. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

5. NHỮNG DẤU HIỆU KẾT HỢP

5.1. HẠCH NÁCH

Các hạch nách to (>2cm) nếu không bị thay thế mỡ cần chứng thực nhận xét,  tương quan lâm sàng và đánh giá thêm nếu nó mới xuất hiện.

d12

Hạch nách bình thường kích thước 1,5-2cm, có thay thế mỡ ở trung tâm (hạch phía sau chỉ có một viền mô mỏng).

d13

Hạch nhóm I: hạch lớn có thay thế mỡ và hạch nhỏ đặc hơn.

d14

Hạch to ở nách trái do ung thư vú trái, chủ yếu thấy trên phim là không cân xứng.

5.2. CO KÉO DA

Da bị co kéo một cách bất thường.

d15

Phản ứng tạo mô sợi dính của ung thư ở vị trí nông, kéo lõm và dày da khu trú như trong hình chụp tiếp tuyến này.

5.3. CO KÉO NÚM VÚ

d16

Hình A co kéo núm và quầng vú do khối ung thư ngay bên dưới. Hình B co kéo núm vú do khối ung thư nằm sâu bên dưới.

5.4.  DÀY BÈ (TRABECULAR THICKENING)

Là sự dày lên của các vách xơ của vú

d17

Dày da và các bè do quá trình viêm không u ở hình A. Hình B cho  thấy tình trạng khi tiêu đi tự phát.

5.5. DÀY DA

Có thể dày khu trú hoặc dày lan tỏa, chiều dày hơn 2mm.

d18

Nữ 46 tuổi sàng lọc. Phim chếch trong ngoài trái và phóng đại, mô tuyến khá đặc, có dày da khu trú (mũi tên). Bên dưới có khối tia gai co kéo da. Mô học: Ung thư biểu mô ống xâm lấn.

 

Nguồn: http://bsxqtuan.wordpress.com